Cài đặt tùy chỉnh

Tùy chỉnh
Mục lục
Đánh dấu

Phụ Hoàng Của Ta Biết Đọc Tâm

Chương 26

Ngày cập nhật : 2026-04-11 00:39:19

 Trang bị quân đội của Đại Ngụy thế nào ư?

Trước hết phải xét từ lịch sử và lãnh thổ của Đại Ngụy để định hình mục đích của chúng.

Tất cả các loại quân trang đều được chuẩn bị để phục vụ cho chiến tranh một cách tốt nhất. Các loại công cụ và trang bị quân đội với hình thức và chức năng đa dạng được chế tạo ra để tấn công và làm suy yếu đối phương, đồng thời bảo vệ bản thân khỏi bị thương tổn trên chiến trường.

Tiền thân của Đại Ngụy là nước Kim.

Vào cuối triều Kim, do hoàng đế là một tên hôn quân, ham mê tửu sắc, hưởng lạc vô độ. Trong ba năm đại hạn, triều đình vẫn vung tiền xây dựng đủ loại công trình lớn khiến dân chúng lầm than, bách tính đồng loạt đứng lên dựng cờ khởi nghĩa.

Triều đình cử quân đi đàn áp, thế nhưng vào cuối triều Kim lúc bấy giờ gian thần lộng hành, độc chiếm quyền binh, chuyên quyền làm loạn. Sau khi đàn áp xong, uy quyền của hoàng thất bị suy giảm, quyền lực của triều đình ngày càng yếu đi, trạng thái cân bằng giữa trung ương và địa phương bị phá vỡ, thế lực khắp nơi đua nhau chiếm cứ một phương, hình thành thế cục các phe phái xâu xé lẫn nhau.

Ngụy Thái Tổ — vị hoàng đế khai quốc của Đại Ngụy — chính là một trong những bậc anh hùng hào kiệt nổi lên giữa thời loạn lạc ấy.

Ngụy gia phất lên nhờ muối.

Mà muối quan trọng và giá như thế nào, có lẽ ngay cả người hiện đại cũng biết.

Thời hiện đại, công nghiệp hóa giúp hạ giá thành, bán rẻ mà vẫn lãi gấp bốn lần vốn.

Còn thời cổ đại, chi phí được cắt giảm trực tiếp từ nhân công.

Mà nhân công thời xưa là gì?

Chẳng khác nào trâu ngựa, là tài sản riêng của gia chủ, chỉ cần cho miếng ăn là xong, hoàn toàn không tốn một đồng tiền lương!

Trên thị trường có ba loại muối: hạng nhất là Ngũ sắc muối, giá tận 7034 văn một cân, chỉ dành cho hoàng thất và quyền quý, hạng hai là muối xanh cho người thường, giá 81 văn tiền một cân, hạng ba là muối đá hay còn gọi là muối độc là loại mà dân nghèo hay dùng, giá chỉ 30 văn một cân.

Sự chênh lệch giữa ba loại muối này là một trời một vực.

Quyền kinh doanh muối dưới triều Kim trước đó không nằm trong tay triều đình, đất muối phần lớn thuộc về các thế lực địa phương giàu có. Trong thời loạn lạc, các vùng muối càng bị tranh giành khốc liệt.

Sự trỗi dậy và xưng bá của nhà họ Ngụy bắt đầu từ việc Ngụy Thái Tổ âm thầm thu nhận đất đai và nhân lực giữa lúc tình hình hỗn loạn.

Trong khi các thế lực khác còn đang mải mê thăm dò, cọ xát lẫn nhau, thì Ngụy Thái Tổ có tiền trong tay đã lo đi thu nạp người tài. Lúc các phe phái đánh nhau đến sứt đầu mẻ trán, Ngụy Thái Tổ vẫn cứ miệt mài đi thu phục nhân tâm, miễn phí chữa trị cho thương binh, an ủi những người sống sót.

Đến khi các thế lực khác bắt đầu quay sang đốt phá, cướp bóc và tàn sát những người dân dám phản kháng, thì cái danh 'nhân đức' của Ngụy Thái Tổ đã vang xa khắp chốn.

[Truyện được đăng tải duy nhất tại website Mỏ Truyện - https://motruyen.online/read/phu-hoang-cua-ta-biet-oc-tam&chuong=26]

Điều này giúp ông thu hút được một lượng lớn chí sĩ tìm đến nương nhờ, từ đó mượn danh nghĩa 'lễ hiền hạ sĩ', đại lượng bao dung mà bành trướng thế lực ra khắp vùng Trung Nguyên!

Khi Ngụy Ngọc đọc được đoạn lịch sử về nhà Ngụy, hắn vô cùng khâm phục lão tổ tông nhà mình.

Lão tổ tông nhà hắn còn hiểu được nguyên tắc “âm thầm phát triển, không phô trương”, khi cần né tránh thì né, khi cần chi tiền thì chi, khi cần cúi mình thì cúi, vừa tích lũy vốn ban đầu để lớn mạnh bản thân, vừa không quên xây dựng danh tiếng!

Một vị chủ công như vậy, trong thời đại mà dân chúng còn chẳng được xem là con người, thật sự đáng quý biết bao?

Quý hiếm đến mức còn hơn bảo vật quốc gia!

Cũng chính vì trải nghiệm được tầm quan trọng của muối, nên sau khi Đại Ngụy lập quốc, triều đình nghiêm cấm hoàn toàn việc buôn bán muối tư nhân, kẻ nào vi phạm sẽ bị tống giam vào ngục, bắt đi đày ngay lập tức.

Sự ra đời của Đại Ngụy đã đặt dấu chấm hết cho sự hỗn loạn và mục nát của vương triều nhà Kim, hoàn thành công cuộc thống nhất Trung Nguyên, nhưng vào thời kỳ đầu dựng nước, Đại Ngụy lại phải đối mặt với tình hình ngoại bang cực kỳ căng thẳng và phức tạp.

Lúc đó, không chỉ có Đại Lương, phía Nam còn có hai nước nhỏ là Tề và Khương, phía Tây Bắc lại có không ít các quốc gia và thế lực thù địch, chủ yếu là các dân du mục giỏi cưỡi ngựa bắn cung.

Để có thể chống chọi tốt hơn với đội quân kỵ binh tinh nhuệ của kẻ thù, đồng thời bảo vệ binh sĩ của mình, quân đội Đại Ngụy đã trang bị một loại binh khí sắc bén tương tự trường thương nhưng uy lực hơn nhiều, gọi là Mạch Đao, từ đó xây dựng nên những quân đoàn bộ binh tinh nhuệ bậc nhất.

Trên chiến trường, chỉ cần binh sĩ cầm Mạc Đao ai nấy cũng đều khiến cho cả người và ngựa của địch tan nát.

Đại Ngụy đã phải trải qua nỗ lực của ba đời hoàng đế mới thu phục được những bộ tộc du mục yếu thế ở vùng biên giới tây bắc, chỉ còn lại những nhóm khó thuần phục, thường xuyên nổi loạn như Hung Nô, Khương, Khiết Đan và Thổ Phồn — tất cả được gọi chung bằng cái tên Bắc Hồ.

Sau này, khi Đại Ngụy muốn thống nhất hai nước Tề và Khương phía Nam, nhưng do địa hình nơi đó phức tạp, rừng núi rậm rạp, nên chiến tranh chủ yếu là tấn công thành trì.

Từ đó kỹ thuật chế tác và sử dụng nỏ pháo, xe ném đá cũng được nâng cấp, các phương thức hỏa công, dùng các loại dầu mỡ dễ cháy hoặc đồ vật thấm dầu mỡ làm nhiên liệu, cũng từ đó mà ra đời

Trang bị trong quân đội Đại Ngụy chia thành hai loại chính: bảo hộ và vũ khí. Bảo hộ bao gồm: mũ giáp, giáp bụng, áo giáp, giày, áo giáo lưới,.. Vũ khí thì đủ loại từ thương, khiên, cung tên, đao kiếm cho đến Mạch Đao, rìu chiến…

Để chế tạo những thứ này nguyên liệu không chỉ có kim loại, gỗ, mà còn cần cả da thú. Toàn là những thứ đốt tiền, từ chế tạo đến sửa chữa, một năm ít nhất 130.000 quan tiền; Đại Ngụy dù giàu có cũng không thể chịu nổi chi phí lâu dài. Chưa kể lương thực một năm của quân đội, tổng cộng phải tốn 300.000 quan tiền mỗi năm.

Hai trăm năm trôi qua, quốc khố của Đại Ngụy tuy chưa cạn kiệt hoàn toàn, nhưng cũng chẳng còn lại bao nhiêu

Phải tiết kiệm!

Làm sao để cắt giảm chi phí, giữ tiền cho quốc khố!

Đây là vấn đề nan giải khiến mọi quan viên muốn cống hiến làm việc cho Đại Ngụy đều phải nghĩ đến hói cả đầu.

...

Vì Công bộ phải quán xuyến từ xây dựng, hậu cần cho đến thủy lợi, chế tác... nên chuyện thiếu hụt kinh phí xảy ra như cơm bữa. Bùi Tri vốn là người tận tâm, làm việc gì cũng kĩ càng, hễ chuyện gì liên quan đến chuyên môn là ông phải truy vấn đến cùng.

Bùi Tri:

“Hiện nay thợ đóng thuyền thường dùng lò phẳng và lò đứng để luyện sắt, nhưng các thợ thủ công ở Công Bộ chúng ta lại dùng hai lò cao đặt song song, nghe bệ hạ nói, điện hạ bảo phương pháp hiện nay của chúng ta là luyện thép?”

Ngụy Ngọc:

“À, cái này à? Đúng rồi! Là luyện thép, chính là phương pháp ‘xào thép’.”

Bùi Tri:

“Xào thép?”

Ngụy Ngọc: “Đúng vậy, từ quặng luyện thành gang, rồi từ gang luyện thành thép, trong quá trình luyện liên tục khuấy trộn, chẳng phải giống như đang xào nấu sao? Nếu không gọi là “xào thép” thì còn gì nữa.”

Nói nghe cũng khá hợp lý.

Mấy vị đại thần trong Công Bộ đồng loạt gật gù.

Bùi Tri trầm tư:

“Phương pháp xào thép, cách diễn đạt này đúng là rất sát thực, vậy điện hạ còn có cách nào khác nữa không?”

Với một người từng học qua lịch sử luyện kim, ai mà chẳng biết ngoài xào thép còn có 'Rót thép'.

Ngụy Ngọc mỉm cười:

"Tất nhiên là còn phương pháp rót thép rồi."

Mắt Bùi Tri sáng rực lên, lập tức truy vấn:

"Phương pháp rót thép là thế nào?"

"Cái này đơn giản thôi, chính là đem gang và sắt vụn phối trộn theo một tỷ lệ nhất định, nung cho gang nóng chảy rồi rót trực tiếp vào sắt vụn. Khi đó, sắt vụn sẽ tăng hàm lượng carbon nhờ gang thẩm thấu vào..."

Một khi đã chạm đúng chuyên môn, Ngụy Ngọc bắt đầu thao thao bất tuyệt, chẳng buồn quan tâm liệu người nghe có thẩm thấu nổi hay không.

Ngụy Hoàng lặng lẽ quan sát, ngón tay nhịp đều trên mặt bàn. Nhìn thấy đám người Bùi Tri từ hưng phấn chuyển sang ngơ ngác, rồi từ lúng túng sang nhăn mặt khổ sở, trong lòng Ngụy Hoàng bỗng thấy nhẹ nhõm hẳn.

Xem ra, không phải chỉ có mình ông là nghe không hiểu.

Bình Luận

0 Thảo luận